Tỷ lệ dự phòng công suất thu hẹp và chi phí nhiên liệu thúc đẩy sự phân hóa lợi nhuận; Thách thức đáo hạn trái phiếu đối với nhóm năng lượng tái tạo.
Q1/2026, sản lượng toàn hệ thống đạt 76,9 tỷ kWh (+6,6% YoY) và phụ tải cực đại Pmax tăng mạnh +7,5% YoY. Nhu cầu tiêu thụ điện duy trì dự báo tiếp tục đà tăng trưởng 11,3%, vượt xa tốc độ tăng trưởng công suất lắp đặt 5,5% trong năm 2026, khiến hệ thống chịu áp lực lớn, đặc biệt tại miền Bắc, tỷ lệ dự phòng công suất dự báo thu hẹp về mức 1,3% (2025: 7,0%), làm gia tăng áp lực lên hệ thống truyền tải liên miền.
Điện than duy trì trạng thái vận hành ổn định với sản lượng Q1/2026 đạt 40,6 tỷ kWh; biên EBITDA và chi phí nguyên liệu đầu vào năm 2026 dự kiến cải thiện hơn dự báo trước nhờ duy trì tỷ trọng than nhập khẩu thấp hơn so với dự kiến của chúng tôi. Tỷ trọng than nhập khẩu trong năm 2026 dự kiến sẽ tương đương với mức của năm 2025.
Phân khúc thủy điện Q1/2026 ghi nhận kết quả tích cực với sản lượng đạt 16,1 tỷ kWh (+8,3% YoY) và biên EBITDA cải thiện so với 2025 (doanh nghiệp niêm yết đạt 75,6% vs 2025: 63,3%). Tuy nhiên, biên EBITDA cả năm 2026 dự báo sẽ giảm so với Q1/2026 và ổn định quanh mức 62,1% do chịu tác động tiêu cực từ hiện tượng El Nino từ Q3/2026.
Sản lượng điện khí Q1/2026 tăng mạnh +15,8% YoY (đạt 5,4 tỷ kWh) nhờ động lực từ cụm LNG Nhơn Trạch 3&4 mới vận hành; tuy nhiên, áp lực giá khí đầu vào tăng mạnh khiến biên EBITDA toàn phân khúc năm 2026 dự báo giảm 5,0 đpt so với dự phóng trước đây của chúng tôi.
Nhiều doanh nghiệp NLTT, phần lớn là doanh nghiệp không niêm yết, gặp khó khăn do phải áp dụng khung giá chuyển tiếp thấp (chỉ bằng ~50% giá FiT) và trong việc áp dụng cơ chế DPPA. Chúng tôi lưu ý mảng NLTT chiếm áp đảo với 77,3% trong tổng số 5.800 tỷ đồng trái phiếu ngành điện đáo hạn năm 2026, trong đó 96,3% khối lượng đáo hạn NLTT thuộc về các tổ chức phát hành có lịch sử chậm trả hoặc tái cơ cấu nợ.
Để đọc báo cáo chi tiết, vui lòng xem tại đây:

